A/ Đất Tổ Nguyệt Viên, Hoằng Hóa, Thanh Hóa
Theo sách Địa Chí tỉnh Thanh Hoá (Tập 1 Địa Lý và Lịch Sử - NXB VHTT năm 2000): Vào thời Hùng Vương nước Văn Lang chia làm 15 bộ, trong đó có Bộ Cửu Chân bao gồm tỉnh Thanh Hóa, một phần tỉnh Nghệ An và phần đất Nam Ninh Bình ngày nay. Tới thời Đinh – Lê chia đất nước ra thành 10 Đạo, trong đó Thanh Hóa được gọi là Ái Châu. Thời Lý đổi 10 đạo thành 20 lộ, trong đó có Lộ Thanh Hóa, đến năm 1111 đổi thành Phủ Thanh Hóa. Vào đời vua Trần Thái Tông (1242), gọi là Thanh Hóa phủ lộ, có lúc gọi Trại Thanh Hóa.
Đến đời Trần Thuận Tông (1397), đổi thành Trấn Thanh Đô, chia làm 7 huyện, 3 châu; trong 7 huyện có 2 huyện Cổ Đằng và Cổ Hoằng, nay thuộc phần đất huyện Hoằng Hóa. Năm 1403, Hồ Hán Thương đổi phủ Thanh Hoá thành phủ Thiệu Xương; cùng Cửu Chân và Ai Châu ghép thành Tam Phủ gọi là Tây Đô (Lúc này Thăng Long là Đông Đô). Năm 1428, Nhà Lê chia nước làm 5 đạo, Thanh Hóa thuộc Hi Tây Đạo. Năm 1466, Lê Thánh Tông đặt là Thừa Tuyên Thanh Hóa, sau đó năm 1469, đổi thành Thanh Hóa và Thanh Hóa xứ (Hồng Đức thứ 21 - 1490). Thanh Hóa xứ có 4 phủ (Thiệu Thiên, Hà Trung, Tĩnh Ninh hay còn gọi là Tĩnh Gia và Thanh Đô), 16 huyện và 4 châu; trong đó phủ Hà Trung có 4 huyện là Tống Giang, Hoằng Hóa, Thuận Hựu và Nga Giang.
Vào thời vua Lê Tương Dực (1509- 1516) gọi Trấn Thanh Hoa. Tên gọi này được duy trì cho đến thời Nguyễn – Sơ (Gia Long – Minh Mạng), gồm có 4 phủ, trong đó phủ Hà Trung gồm: Huyện Tống Sơn có 4 tổng, huyện Hoằng Hóa có 7 tổng. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) đổi trấn thành tỉnh, gọi là tỉnh Thanh Hoa.
Cho tới năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), tỉnh Thanh Hoa được đổi tên thành Thanh Hóa, đánh dấu ra đời của tỉnh Thanh Hóa ngày nay. Tính đến ngày 5/8/1999, tỉnh Thanh Hoá có 27 huyện, thị, thành phố với 630 xã, phường, thị trấn 5759 thôn, xóm, làng, bản, phố.
*
* *
Làng Nguyệt Viên nằm bên dòng sông Mã, thuộc xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa ngày nay.
Theo cổng Thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa thì vào thời Ðinh – Lê, đất Hoằng Hóa gọi là giáp Cổ Hoằng, thời Lý - Trần gọi là Cổ Ðằng, thời nhà Hồ đổi là huyện Cố Linh, thời thuộc Minh gọi là huyện Cố Ðằng. Ðến thời Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Ðức thứ nhất (năm 1470) mới chính thức có tên huyện Hoằng Hóa. Dưới thời Minh Mạng (năm 1838), một số làng, tổng ở phía Bắc được cắt ra cùng với tổng Ðại Ly ở huyện Hậu Lộc lập nên huyện Mỹ Hóa do huyện Hoằng Hóa kiêm nhiệm. Cho tới đầu thế kỷ XX, huyện Mỹ Hóa giải thể, các làng, tổng trên lại nhập về Hoằng Hóa. Từ đó địa giới Hoằng Hóa ổn định cho đến ngày nay. Hoằng Hóa là một huyện ven biển nằm phía Đông tỉnh Thanh Hóa, với chiều dài bờ biển 12km, diện tích khoảng 224,58km2, dân số khoảng 25.3400 người (theo điều tra năm 1999). Hoằng Hóa có 47 xã và 2 thị trấn, địa hình tự nhiên và đất đai Hoằng Hóa được chia thành ba vùng: 17 xã phía Bắc huyện thuộc tả ngạn sông Tuần và sông Mã là vùng đất thích hợp với canh tác lúa nước hai vụ chính; 22 xã vùng giữa và phía Nam huyện thuộc hữu ngạn sông Tuần và tả ngạn sông Mã phần lớn đất cát pha, thích hợp thâm canh cây lúa và màu; 8 xã vùng biển ở phía Ðông sông Cung hầu hết là đất cát, vừa sản xuất nông nghiệp vừa làm nghề nuôi trồng, khai thác thuỷ, hải sản.
Từ thành phố Thanh Hóa qua cầu Hàm Rồng xuôi về hướng Đông khoảng 3km, xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, nằm bên tả ngạn sông Mã, đồng ruộng phù sa màu mỡ, lúa khoai quanh năm tươi tốt. Xã Hoằng Quang ngày nay, nằm trong tổng Từ Quang. huyện Hoằng Hóa trước kia, được phân chia lại sau tháng 8 năm 1945. Địa thế xã có núi Phong Châu làm án, dòng sông Mã cuốn quanh, non sông hun đúc khí thiêng. Địa linh sinh nhân kiệt, đất này đã sinh ra nhiều nhân tài hào kiệt, đặc biệt là danh nhân khoa bảng, cả trấn có 22 tiến sĩ, 1 trạng nguyên, 1 bảng nhãn...
Riêng về sự học, làng Nguyệt Viên, mảnh đất chôn nhau, cắt rốn Đức Thủy tổ Nguyễn Văn Phú còn được xem là “làng khoa bảng”, hay “làng đại khoa”. Xã Nguyệt Viên xưa còn có tên là Phúc Châu, Nguyệt Giang và Nguyệt Nổ, đến năm 1637 đã được đổi tên là Nguyệt Viên. Tương truyền, vua Lê Thánh Tông đã đổi tên làng Nguyệt Nổ thành Nguyệt Viên. Vì trong một lần nhà vua đi dạo qua đây, đã chứng kiến phong cảnh thơ mộng, người dân có nhiều phong tục dân gian, sống trong cảnh yên bình, no ấm nên đặt lại tên làng như vậy. Theo một số sử liệu của huyện Hoằng Hóa còn ghi lại: “Trước kia, khi văn minh sông nước còn thịnh, Nguyệt Viên là bến đỗ của các thương thuyền. Bến Nguyệt Viên nhộn nhịp trên bến dưới thuyền, trăm người bán, vạn người mua. Các quan tổng, quan phủ cũng thường đến đây nghe hát và tiêu dao thơ phú nơi sông nước hữu tình”. Ngày nay, trong dân gian vẫn còn truyền tụng: “Cơm Nông cống, cá Quảng Xương, văn chương Hoằng Hóa”; hay “Nguyệt Viên có 18 ông nghè, ông cưỡi ngựa tía ông che lọng vàng”. Nếu như thời trước, làng Nguyệt Viên có nhiều người học hành đỗ đạt cao, như: Nguyễn Nhân Trị đỗ Tiến sĩ năm Giáp Tuất
(1634), Lê Bình Trung Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1640), Nguyễn Kinh Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Tân Sửu (1661), Nguyễn Tông đỗ Tiến sĩ năm Canh Thân (1680)… thì vào năm 2010, người ta thống kê vùng quê này cũng đã có 2 giáo sư, 4 phó giáo sư, hơn 30 tiến sĩ, hơn 20 thạc sĩ và hơn 100 sinh viên theo học đại học các trường trong và ngoài nước. Thời phong kiến, các dòng họ ở làng đều coi việc học là “nghề” tiến thân; ngày nay các dòng họ cũng đưa việc học vào “Tộc ước”; nhà nhà động viên, khuyến khích con, cháu thi đua học tập…
Ngày nay, làng Nguyệt Viên gồm 4 thôn, có 720 hộ với 3.400 nhân khẩu; trong đó có tới hơn 80% số hộ khá và giàu. Những người thành đạt xa quê, hàng năm luôn đóng góp xây dựng quê hương, ủng hộ quỹ khuyến học. Cùng với sự cần cù, chịu khó làm ăn của nhân dân trong làng, Nguyệt Viên đã trở thành một làng quê trù phú vào bậc nhất huyện Hoằng Hóa. Tại làng văn hóa Nguyệt Viên, nhiều trò chơi thuộc văn hóa phi vật thể như kéo hẹ, ném vòng vào đầu vịt, múa tú huần... vẫn còn lưu giữ và được biểu diễn trong những ngày hội làng vào đầu xuân. Thường trong các dịp lễ hội, làng luôn tổ chức biểu dương gia đình, cá nhân có nhiều đóng góp xây dựng và phát triển quê hương, biểu dương những tấm gương sáng trong học tập, phát huy truyền thống hiếu học trong giới trẻ…
*
* *
B/ Mông Lãnh & Phú Triêm – Miền đất sinh cơ, lập nghiệp
Khoa thi vào năm Mậu Tuất – 1898, tỉnh Quảng Nam có 5 người cùng đỗ đại khoa trong kỳ thi Hội và thi Đình, đứng trên 17 thí sinh cả nước, nên được vua Thành Thái (1979–1854) ban cho tấm biển ghi 4 chữ "Ngũ phụng tề phi" (Năm con phụng cùng bay) nhằm chúc, tặng và cũng là để tôn vinh tinh thần hiếu học của học trò đất Quảng thuở ấy. Những người đỗ đạt gồm 3 Tiến sĩ: Phạm Liệu, quê xã Trừng Giang, tổng Đa Hòa Thượng, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Điện Trung, Điện Bàn); Phan Quang, quê xã Phước Sơn Thượng, tổng Xuân Phú Trung, huyện Quế Sơn, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Quế Châu, Quế Sơn; Phạm Tuấn, quê xã Xuân Đài, tổng Phú Khương Thượng, huyện Diên Phước, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Điện Quang, Điện Bàn); 2 Phó bảng là Ngô Chuân, ở xã Mông Lãnh, tổng Phú Xuân, huyện Quế Sơn, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam và Dương Hiển Tiến, người xã Cẩm Lậu, tổng Thanh Quýt, huyện Diên Phước, phủ Ðiện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc xã Điện Phong, Điện Bàn).
Sở dĩ chúng tôi nhắc đến chuyện “Ngũ Phụng tề phi” là vì trong số đó có Phó
bảng Ngô Chuân, quê quán xã Mông Lãnh.
Tuy nhiên, thời vua Thành Thái (1979-1854), Mông Lãnh đã thuộc tổng Phú Xuân, huyện Quế Sơn, Phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Địa danh xã Mông Lãnh xuất hiện trong bản cổ văn viết về nguồn gốc, xuất xứ dòng tộc Nguyễn Văn – Phú Triêm và quá trình lập nghiệp của Đức Thủy tổ Nguyễn Văn Phú cùng các vị Tổ đời thứ 2, (bản văn do các vị Tổ đời thứ 3 biên soạn và Đệ Ngũ Thế tổ khảo Nguyễn Văn Chiêu chép lại) - Điểm dừng chân đầu tiên của gia đình Đức Thủy tổ Nguyễn Văn Phú, sau khi rời quê hương Nguyệt Viên (Thanh Hóa) di cư vào Nam, lại là xã Mông Lãnh, thuộc phủ Thăng Hoa, dinh Quảng Nam. Như vậy, rõ ràng có sự thay đổi địa danh hành chính giữa thời vua Lê Thuần Tông ở Đàng Ngoài, Ninh vương Nguyễn Phúc Chú (Chúa Ninh) xứ Đàng Trong và thời vua Thành Thái, sau khi Gia Long Hoàng đế thống nhất sơn hà.
*
* *
Khảo cứu các tư liệu lịch sử về xứ Đàng Trong và đất Quảng Nam trong hành trình mở cõi của cha ông ta, cho thấy: Địa danh Quảng Nam (có nghĩa mở rộng đất đai về phương Nam), hay Quảng Nam Thừa Tuyên Đạo xuất hiện từ thời Hồng Đức năm thứ 2 – 1471, sau khi vua Lê Thánh Tông đem quân đánh chiếm vùng đất phía Nam Thuận Hóa, đại thắng Đồ Bàn mở rộng bờ cõi đến đèo Cù Mông, núi Thạch Bi (Phú Yên).
Đất Quảng Nam xưa là đất Việt Thường Thị, theo dòng lịch sử trở thành lãnh thổ quan trọng của Chiêm Thành. Để giữ yên bờ cõi, đánh dẹp những cuộc quấy nhiễu của người Chiêm Thành đối với biên giới nước Đại Việt, cuộc Chiêm phạt đầu tiên vào năm 982, do vua Lê Đại Hành thân chinh cầm quân.
Tiếp theo đó là cuộc phạt Chiêm của vua Lý Thái Tổ; rồi vào năm 1069, vua Lý Thánh Tôn cùng tướng quân Lý Thường Kiệt dẫn đại quân đánh đến tận kinh đô Đồ Bàn, khiến vua tôi Chiêm Thành phải thuần phục.
Tới năm 1306, vua Chiêm là Jaya Simhavarman III (Chế Mân) xin dâng vua Trần vùng đất 2 châu: Ô, Lý (từ huyện Hải Lăng, Quảng Trị đến bờ Bắc sông Thu Bồn, Quảng Nam) làm sính lễ cưới Huyền Trân Công chúa. Một năm sau, vua Trần Anh Tôn cho đổi 2 châu: Ô, Lý thành Thuận Châu và Hóa Châu. Khi Chế Mân chết, Chiêm Thành làm phản, năm 1311, vua Trần Anh Tôn cùng tướng quân Phạm Ngũ Lão dẫn đại binh chinh phạt, mãi cho tới năm 1360 thì biên giới Đại Việt đã mở đến cửa Đại Chiêm…
Đến thời Hồ Hán Thương (1402), Hồ Qúy Ly cầm binh đánh Chiêm Thành, vua Chiêm xin cắt nhượng Chiêm Động và Cổ Lũy Động (tức từ Quảng Nam đến bắc Quảng Ngãi ngày nay). Nhà Hồ chia miền đất này thành 4 châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa; đặt Thăng Hoa Lộ An Phủ Sứ thống hạt cả 4 châu.
Thời Hậu Trần, năm 1414, Thăng Hoa Lộ An Phủ Sứ được đổi thành Thăng Hoa phủ.
Năm 1466, vua Lê Thánh Tông chia Đại Việt thành 12 Đạo Thừa Tuyên; đổi trấn thành châu, đổi lộ thành phủ. Rồi năm 1469, nhà vua thân chính bình Chiêm mở rộng bờ cõi đến Bình Định, đặt tên Phủ Hoài Nhơn, sau đó lập nên Đạo Thừa Tuyên thứ 13, tức Thừa Tuyên Quảng Nam như đã nêu trên. Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam có 3 phủ: Thăng Hoa, Tư Nghiã và Hoài Nhơn (tức Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định).
Năm Hồng Đức thứ 21 – 1490, vua Lê Thánh Tông lại đổi 13 Đạo thành 13 Xứ, Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam thành Xứ Quảng Nam. Theo sách Ô Châu cận lục thì Quảng Nam thừa tuyên sứ ty lúc đó quản lãnh 3 phủ (Thăng Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhơn) và 9 huyện. Trong đó, 66 xã của 12 tổng thuộc huyện Điện Bàn có địa danh xã Mông Lãnh. Như vậy, địa danh Mông Lãnh đã xuất hiện từ thời vua Lê Thánh Tông. Riêng Xứ Quảng Nam, đến đời vua Lê Tương Dực (1509-1516), nhà vua lại đổi thành Trấn Quảng Nam…
Năm Nhâm Dần – 1602, chúa Tiên Nguyễn Hoàng lập dinh trấn Quảng Nam tại Cần Húc, huyện Diên Phước (Năm Tự Đức thứ 20, đất Cần Húc, thuộc xã Văn Đông, tổng An Nhơn Trung, huyện Diên Khánh, phủ Điện Bàn; là miền đất nằm tiếp giáp Thanh Chiêm, Điện Bàn ngày nay); thành lập Dinh Quảng Nam gồm có 4 phủ, 1 huyện, trong đó 4 phủ là: Điện Bàn, Thăng Hoa, Quảng Ngãi và Hoài Nhơn.
Năm 1806, vua Gia Long thống nhất đất nước, chia đất nước thành 23 trấn và 4 doanh thuộc đất kinh kỳ gồm Trực Lệ-Quảng Đức, Quảng Bình, Quảng Trị và Quảng Nam doanh. Năm 1831, vua Minh Mạng đổi trấn và doanh thành tỉnh. Tỉnh Quảng Nam ra đời, có 8 phủ, huyện: Hòa Vang, Đại Lộc, Duy Xuyên, Điện Bàn, Quế Sơn, Thăng Bình, Tam Kỳ, và Tiên Phước.
Năm 1888, dưới thời vua Thành Thái, Đà Nẵng thị được tách khỏi tỉnh Quảng Nam để trở thành đất nhượng địa của thực dân Pháp.
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, dưới thời chế độ Việt Nam Cộng Hòa, tỉnh Quảng Nam (1956), chia thành hai tỉnh mới là Quảng Nam và Quảng Tín. Quảng Nam ở phía Bắc gồm các quận: Hòa Vang, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Đức Dục, Hiếu Nhơn, Quế Sơn, Hiếu Đức và Thường Tín. Quảng Tín ở phía Nam gồm: Thăng Bình, Tiên Phước, Hậu Đức, Lý Tín, Hiệp Đức và Tam Kỳ.
Đất nước thống nhất đất nước, sau năm 1975, Chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quyết định sáp nhập hai tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín và TP Đà Nẵng thành lập tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng với Đà Nẵng là tỉnh lị. Đến năm 1997, tại kỳ họp thứ X của Quốc Hội, tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng được chia
thành hai đơn vị thành chính độc lập gồm TP Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. Tỉnh Quảng Nam mới có 14 huyện gồm: Giằng (nay là huyện Nam Giang), Hiên (nay là Đông Giang và Tây Giang), Đại Lộc, Phước Sơn, Duy Xuyên, Điện Bàn, Quế Sơn (nay là Quế Sơn và Nông Sơn), Thăng Bình, Hiệp Đức, Tiên Phước, Trà My (nay là Bắc Trà My và Nam Trà My), Núi Thành và 2 thị xã: thị xã Tam Kỳ (nay là thành phố tỉnh lị Tam Kỳ và huyện Phú Ninh) và thị xã Hội An (nay là thành phố Hội An).
*
* *
Như vậy, địa danh xã Mông Lãnh có từ thời vua Lê Thánh Tông. Tới thời các chúa Nguyễn cai quản xứ Đàng Trong, đặc biệt là giai đoạn Đức Thủy tổ Nguyễn Văn Phú di cư từ quê hương Thanh Hóa vào Nam, tức là giai đoạn Ninh vương Nguyễn Phúc Chú (Chúa Ninh) và tiếp theo là Võ vương Nguyễn Phúc Khoát (Chúa Võ)… xã Mông Lãnh thuộc phủ Thăng Hoa, dinh Quảng Nam.
Xã Mông Lãnh xưa có 3 làng: Thượng Dĩnh, Trung Dĩnh và Phù Sa; trong vùng có đầm rộng thông với đầm Dưỡng Mông. “Nước đầm mùa xuân đục mùa hạ mặn, mùa thu mùa đông trong mà lạc miệng đầm thông với đầm Dưỡng Mông” (Theo sách Đại Nam Nhất Thông Chí). Đầm Mông Lãnh nức tiếng vì sen, đó là vựa sen lớn nhất xứ Quảng Nam thời bấy giờ đến mùa hương sen thơm ngào ngạt. Ngày nay, đất Mông Lãnh thuộc xã Quế Xuân 1, huyện Quế Sơn, Quảng Nam.
*
* *
Theo nghiên cứu của các sử gia, sau khi lập dinh trấn Quảng Nam ở Cần Húc, vào năm 1604, chúa Tiên Nguyễn Hoàng tách huyện Điện Bàn ra khỏi trấn Thuận Hóa, nhập về Quảng Nam thăng làm phủ Điện Bàn. Từ đó Dinh Quảng Nam có 4 phủ: Điện Bàn, Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn.
Năm 1803, vua Gia Long lập dinh Quảng Nam gồm 2 phủ Thăng Hoa và Điện Bàn. Phủ Thăng Hoa gồm 3 huyện: Duy Xuyên, Lễ Dương và Hà Đông, phủ Điện Bàn gồm 2 huyện Diên Khánh và Hoà Vang.
Sách Lịch sử nội chiến Việt Nam từ 1771 – 1802 của Tạ Chí Đại Trường (xuất bản năm 1973) viết về trận đánh chiếm dinh trấn Thanh Chiêm của Tây Sơn do quân chúa Nguyễn Ánh tiến hành năm 1797 đã xảy ra trên đất huyện Điện Bàn:
“Nguyễn Ánh lo thanh toán vùng bên trong, nên sai Cảnh (Hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh) tiến vào cửa Đại Chiêm đánh Chiêm doanh (Dinh Chiêm), có Võ
Tánh từ Phú Yên đến trợ giúp. Cảnh chiếm chợ Đông An, Hội An… Hoàng tử Cảnh thắng ở núi La Qua, để Phạm Văn Nhân ở lại Đại Chiêm, kéo Vũ Bá Diên đến Phú Triêm” (tr. 303). Điều đó cho thấy, trước khi Nguyễn Phúc Ánh (Nguyễn Ánh) thống nhất đất nước, đã có địa danh Phú Triêm. Khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, năm Gia Long thứ 2 – 1803, xã Phú Triêm, thuộc huyện Diên Khánh, phủ Điện Bàn. Trùng khớp thời điểm Đệ Ngũ Thế tổ khảo Nguyễn Văn Chiêu biên soạn lại phổ hệ.
Có thể tên gọi địa danh Phú Triêm là do những vị Tổ đời thứ 3, đời thứ 4 của tộc Nguyễn Văn chúng ta, cùng các vị Tổ của một số dòng họ, như: Dương, Lê, Nguyễn, Đinh, Trương, Đỗ, Đặng… đặt cho vùng đất nằm ở miền hạ lưu sông Thu Bồn mà họ đã cùng nhau hợp sức khai hoang, vỡ hóa, kiến tạo nên làng, nên xóm. Khả năng tên gọi đó có từ thời Cảnh Hưng (niên hiệu vua Lê Hiển Tông 1740-1786). Lúc này, xứ Đàng Trong do vị chúa Nguyễn thứ 9 là Định vương Nguyễn Phúc Thuần trị vì. Nhận định này hoàn toàn có cơ sở, vì trong bản cổ văn viết về nguồn gốc, xuất xứ và quá trình lập nghiệp của Đức Thủy tổ Nguyễn Văn Phú và các vị Tổ tộc Nguyễn Văn – Phú Triêm chúng ta có đoạn viết rõ: “Dư nãi củ, đồng chư huynh đệ, tử tôn cập đệ tề để giai dữ Phú Triêm tiền hiền Dương, Lê công, Nguyễn, Đinh, Trương, Đỗ, Đặng chư tướng công, chí tử tôn thi công khai bồi tùy nghi khẩn trị điền đề cung canh thực lực. Chí Cảnh Hưng niên giang, đồng thời kê khai đơn thân vọng khẩn, khống Trường Giang nhi lập giới, thùy mặc bộ dĩ mính danh, đãi vu hậu nhơn kỳ công đức điệt vi mậu hỉ” Tạm dịch: “Sau khi đến vùng đất mới, anh em con cháu trong tộc ta thi công, hiệp sức cùng với các dòng tộc Dương, Lê, Nguyễn, Đinh, Trương, Đỗ, Đặng, khai khẩn vùng đất hoang thành ruộng nương canh tác. Cho đến đời Cảnh Hưng thì làm sổ bộ, đồng thời xin chế ngự sông Thu Bồn (Trường Giang) lập nên địa phận, dựng bia đá tạo ranh giới của xã, lưu truyền công đức tốt đẹp cho hậu thế”.
Đặt tên làng Phú Triêm, các Tổ đời thứ 3, thứ 4 của tộc Nguyễn Văn chúng ta và các Tổ của những dòng tộc: Dương, Lê, Nguyễn, Đinh, Trương, Đỗ, Đặng, hàm ý ghi nhớ ơn mưa móc của các chúa Nguyễn đã có công đức mở đất Quảng Nam và cả một miền đất phương Nam rộng lớn từ Quảng Nam đến Nam Bộ, để từ đó các dòng tộc hội tụ về đây góp sức cùng nhau khai khẩn đất hoang, chế ngự dòng sông Thu Bồn miền hạ du mà hình thành nên ngôi làng trù phú, sầm uất, nằm giữa dinh trấn Thanh Chiêm và cảng thị Hội An lúc bấy giờ… Ngày nay, Phú Triêm là phần đất của các thôn: Triêm Trung, Triêm Đông, Triêm Nam, thuộc xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, Quảng Nam. Thời nào đất Phú Triêm cũng có nhân tài, góp công giúp đời, giúp nước. Quê hương Phú Triêm còn là “cái nôi” của các món ăn đặc sản xứ Quảng, như: bánh tráng, mì Quảng, bê thui Cầu Mống…
(((OOO)))



06:13
Huyền tôn đệ nhất thế Nguyễn Văn Long

0 nhận xét:
Đăng nhận xét